Xây dựng, hoàn thiện hệ thống Pháp luật và vai trò của tổ chức Pháp chế

17:18 | 17/04/2014

(Bqp.vn) - Công tác xây dựng thể chế dân chủ và quản lý xã hội bằng pháp luật được Đảng và Nhà nước ta quan tâm ngay sau khi giành được chính quyền. Chỉ hơn một năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 09/11/1946, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta. Quá trình xây dựng hệ thống pháp luật được tiến hành liên tục, cả trong giai đoạn cực kỳ khó khăn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc và chiến tranh chống đế quốc Mỹ, giải phóng đất nước. Sau cuộc tổng tuyển cử năm 1976, bầu Quốc hội chung của cả nước và đặc biệt sau khi Đảng ta có chủ trương đổi mới, hội nhập quốc tế, công tác xây dựng thể chế càng được quan tâm.

 

Đại tá Hà Tuấn Huy, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế BQP phát biểu tại Hội nghị tập huấn năm 2013.

 Tại Đại hội lần thứ VIII (năm 1996, sau 10 năm đổi mới) Đảng ta xác định: Cần tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Ngày 14/5/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48-NQ/TW). Đây là một văn bản quan trọng để thực hiện mục tiêu được Đại hội Đảng VIII xác định. Từ khi có Nghị quyết số 48-NQ/TW, cả hệ thống chính trị của nước ta đã vào cuộc với những chủ trương, biện pháp, giải pháp tích cực, kiên quyết của các cấp, các ngành. Công tác xây dựng thể chế được quan tâm đặc biệt, số lượng luật ban hành trong 8 năm (từ 2005 đến 2013 là 163 văn bản), xấp xỉ bằng số lượng luật được xây dựng của 58 năm trước đó (từ 1946 đến 2004 là 168 văn bản). Tương ứng với tỷ lệ trên, số lượng văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành có số lượng hàng chục nghìn văn bản, tăng lên rất nhiều so với giai đoạn trước đó.

Xác định tính chất, tầm quan trọng của công tác tổ chức xây dựng pháp luật, ngày 26/10/1957, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 504-TTg thành lập Vụ Pháp chế trực thuộc Thủ tướng, trực tiếp tham mưu giúp Thủ tướng: Nghiên cứu các dự án luật lệ và các vấn đề pháp lý; soát lại các văn bản có tính chất pháp quy của các bộ và các Ủy ban hành chính khu, tỉnh, thành phố ban hành để bảo đảm nguyên tắc pháp trị dân chủ; làm thủ tục ban hành văn bản pháp luật; xuất bản công báo và tập luật lệ; góp ý kiến với chính quyền, đoàn thể về phổ biến luật lệ trong cán bộ, nhân dân.

Quá trình phát triển, về cơ bản công tác chủ trì xây dựng thể chế được giao cho các cơ quan quản lý nhà nước trên các lĩnh vực (đó là các bộ, ngành Trung ương) thực hiện. Tại mỗi bộ, ngành, công việc này có sự tham gia của rất nhiều các cơ quan, đơn vị chức năng; do đó, cần một cơ quan có vai trò tham mưu và giúp người đứng đầu các bộ, ngành tổ chức thực hiện. Ngày 17/6/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 178-HĐBT về tổ chức pháp chế ở các ngành, các đơn vị sản xuất, kinh doanh thuộc khu vực nhà nước. Ngày 06/9/1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 94/CP về tổ chức pháp chế ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Sự phát triển về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế bộ, ngành Trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dần được phát triển qua từng giai đoạn và được thể hiện tại các văn bản: Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 và hiện nay là Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Nghị định số 55/2011/NĐ-CP) được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013.

Theo quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, Tổ chức pháp chế ở bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là đơn vị chuyên môn, có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc quản lý nhà nước bằng pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực được giao và tổ chức thực hiện công tác pháp chế quy định tại Nghị định này. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ chức pháp chế (Vụ Pháp chế ở cơ quan Bộ) được quy định tại Nghị định gồm 13 nội dung, chủ trì, tham mưu, giúp Bộ trưởng tổ chức thực hiện: Về công tác xây dựng pháp luật; Công tác rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật; Công tác kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật; Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; Công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật và kiểm tra việc thực hiện pháp luật; Công tác bồi thường của Nhà nước; Công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; Công tác tham mưu về các vấn đề pháp lý và tham gia tố tụng; Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ trong công tác pháp chế; Công tác thi đua khen thưởng trong công tác pháp chế; Công tác hợp tác với nước ngoài về pháp luật; Công tác kiểm soát thủ tục hành chính.

Vụ Pháp chế Bộ Quốc phòng, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn các mặt công tác nêu trên còn được Bộ trưởng giao chủ trì thực hiện: Công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính; Công tác tham mưu giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo; Công tác cải cách tư pháp và tham mưu, giải quyết các công việc liên quan đến các cơ quan tiến hành tố tụng trong Quân đội…

Cùng với sự phát triển của chức năng, nhiệm vụ, tổ chức pháp chế các bộ, ngành nói chung, Vụ Pháp chế Bộ Quốc phòng và tổ chức pháp chế, cán bộ pháp chế các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ nói riêng cũng như hoạt động công tác pháp chế được quan tâm phát triển qua từng thời kỳ. Các nội dung công việc được thực hiện tương đối đồng bộ, góp phần giúp Bộ trưởng thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật một cách hiệu quả. Tuy nhiên, pháp luật là lĩnh vực thuộc kiến trúc thượng tầng và được ví như một thực thể sống, quá trình xây dựng pháp luật, tiêu chí bảo đảm sự đồng bộ thống nhất, sát thực tiễn luôn được đề cao. Hơn nữa, đất nước đang trong quá trình phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng; kinh tế - xã hội và các mối quan hệ cần được pháp luật điều chỉnh. Do đó, hệ thống pháp luật không thể tránh khỏi những yếu tố như: Tính lạc hậu, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn, cản trở và có những vấn đề trở nên bức xúc nếu không được xử lý kịp thời. Hiện nay, hệ thống pháp luật về quân sự, quốc phòng có khoảng 3.000 văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực thi hành. Công tác xây dựng pháp luật đã khó, công tác tổ chức thực hiện, theo dõi thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện và xử lý nhanh, hiệu quả những vấn đề bất cập của pháp luật còn khó hơn nhiều. Mặt khác, Quốc hội nước ta vừa thông qua Hiến pháp năm 2013, đây là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới toàn diện đồng bộ về kinh tế, chính trị đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới. Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến. Hiến pháp là đạo luật gốc, mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp.

Thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, trong bối cảnh Hiến pháp 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014, là cả một khối lượng công việc rất lớn, đã và đang nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Thủ trưởng Bộ Quốc phòng.

Để hoàn thành tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong Quân đội thời gian tới, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần quan tâm hơn nữa, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ; tổ chức pháp chế, cán bộ pháp chế cần chủ động hơn trong công tác tham mưu, giúp chỉ huy cơ quan, đơn vị trong triển khai thực hiện công tác này. Đối với các cơ quan có chức năng tham mưu, giúp Bộ quản lý nhà nước trên các mặt công tác của nhiệm vụ quân sự, quốc phòng cần chủ động rà soát, đề xuất cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, phù hợp với quy định của Hiến pháp.

Đại tá Hà Tuấn Huy, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế BQP

File đính kèm :