(Bqp.vn) - Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ mở ra giai đoạn phát triển mới cho cách mạng Việt Nam. Miền Bắc nước ta hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ hất cẳng Pháp, thi hành chính sách thực dân mới, biến miền Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà của nhân dân ta chưa hoàn thành, Bộ Tổng Tham mưu cùng cả nước bước vào thời kỳ mới: Bảo vệ vững chắc miền Bắc XHCN, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Chấn chỉnh lực lượng, sẵn sàng đối phó với kẻ thù mới
Cùng với chỉ đạo lực lượng vũ trang thực hiện các thỏa thuận được quy định trong Hiệp định Giơnevơ, trong hai năm (1955 - 1956), Bộ Tổng Tham mưu cùng các tổng cục chỉ đạo toàn quân, nhất là những đơn vị miền Nam tập kết và đơn vị tình nguyện chấn chỉnh tổ chức biên chế, vũ khí trang bị, xây dựng theo hướng chính quy, hiện đại; chuyển một số đơn vị sang làm nhiệm vụ phòng thủ bờ biển, bảo vệ yếu địa miền Bắc. Đồng thời tập trung nghiên cứu trình Tổng Quân ủy Đề án Kế hoạch xây dựng Quân đội 5 năm lần thứ nhất (1955 - 1960).
Thực hiện kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ nhất, ở miền Bắc, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo các sư đoàn bộ binh và các lữ đoàn, trung đoàn binh chủng điều chỉnh biên chế, trang bị thống nhất, chính quy, tương đối hiện đại; xây dựng một số cơ sở bước đầu cho Quân chủng Không quân và Quân chủng Hải quân. Cùng với việc xây dựng, nâng cao trình độ sẵn sàng chiến đấu của bộ đội thường trực, Bộ Tổng Tham mưu còn chỉ đạo xây dựng dân quân tự vệ - lực lượng hậu bị phát triển rộng khắp theo yêu cầu phòng thủ miền Bắc. Thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình, đề xuất và giải quyết kịp thời các vấn đề chiến lược trước mắt, đồng thời sớm chủ động xây dựng các kế hoạch chiến lược lâu dài; chỉ đạo xử lý nhanh gọn tình hình bằng phương pháp thích hợp; đấu tranh chính trị - pháp lý, kết hợp với tăng cường áp lực quân sự, đánh bại mọi âm mưu phá hoại của địch, nhanh chóng ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội; hoàn thành triển khai lực lượng bảo vệ chủ quyền biên giới, bảo vệ vùng trời, vùng biển, chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng tiềm lực, thế trận chiến tranh nhân dân.
Ở miền Nam, sau khi có Nghị quyết Trung ương 15 (01/1959), Bộ Tổng Tham mưu đã khẩn trương tổ chức và huấn luyện những đơn vị tập kết ra Bắc; nghiên cứu, tổ chức lực lượng tạo thế, tạo lực xây dựng lực lượng vũ trang; mở tuyến chi viện cho miền Nam như tuyến đường vận tải chiến lược đường bộ với việc thành lập Đoàn 559 (5/1959) và tuyến vận tải biển (7/1959); kiến nghị những phương thức thích hợp, kịp thời hỗ trợ cho cách mạng Lào, đặc biệt trong những thời điểm khó khăn nhất, tiến lên giành thắng lợi to lớn, đồng thời nghiên cứu, kiến nghị với Tổng Quân ủy phương châm kế hoạch xây dựng lực lượng, triển khai chấn chỉnh tổ chức biên chế, trang bị, xây dựng lực lượng vũ trang theo hướng chính quy, hiện đại.
Đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt”
Đầu năm 1961, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “phản ứng linh hoạt”, thực hiện “chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam, với các thủ đoạn càn quét, dồn dân vào ấp chiến lược, tăng cường viện trợ, cố vấn quân sự cho quân đội Sài Gòn và đẩy mạnh phá hoại miền Bắc. Quán triệt đường lối của Đảng, Bộ Tổng Tham mưu kịp thời tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các chủ trương, phương án bảo vệ miền Bắc, chuyển hướng đấu tranh ở miền Nam và chỉ đạo tác chiến trên các chiến trường.
Ở miền Bắc, Bộ Tổng Tham mưu xây dựng, hoàn chỉnh các phương án tác chiến, tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, thế trận chiến tranh nhân dân, chuẩn bị động viên chiến tranh; chủ động dự báo, nắm chắc âm mưu địch, kịp thời chuyển lực lượng sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao, từng bước hình thành phương thức chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ.
Ở miền Nam, Bộ Tổng Tham mưu bám sát tư tưởng chỉ đạo chiến lược, hướng dẫn các chiến trường giữ vững thế cài răng lược, kết hợp “ba mũi”, “ba vùng”, “ba bám”, xây dựng lực lượng chủ lực; đồng thời tham mưu tăng cường cán bộ, quân chủ lực, vũ khí, đạn dược, chuẩn bị chiến trường và kiện toàn hệ thống chỉ huy quân sự các cấp. Ngày 15/2/1961, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, đánh dấu bước phát triển mới của lực lượng vũ trang cách mạng.
Trên chiến trường Lào, Bộ Tổng Tham mưu nghiên cứu, đề xuất phương thức tác chiến phù hợp, phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Lào xây dựng và phát triển “chiến tranh nhân dân”.
Thực hiện Kế hoạch quân sự 5 năm lần thứ hai (1961 - 1965), Bộ Tổng Tham mưu từng bước hoàn chỉnh tổ chức, biên chế thời chiến, xây dựng lực lượng cho chiến trường miền Nam; trong đó có việc đưa từ miền Bắc vào Nam 3 - 4 vạn quân chính quy, tổ chức Sư đoàn 338 thành “Đoàn huấn luyện đặc biệt” để đào tạo, bổ sung cán bộ, chiến sĩ cho chiến trường miền Nam.
Cùng với xây dựng lực lượng, Bộ Tổng Tham mưu giải quyết các vấn đề về trang bị kỹ thuật, tranh thủ viện trợ, đẩy mạnh sản xuất, sửa chữa vũ khí trong nước, từng bước hiện đại hóa quân đội. Từ lực lượng chủ yếu là bộ binh với vũ khí mang vác, Quân đội ta từng bước phát triển thành quân đội chính quy có đủ các lực lượng lục quân, phòng không, không quân, hải quân, cùng lực lượng dân quân tự vệ và dự bị hùng hậu.
Đánh thắng chiến lược “chiến tranh cục bộ”
Năm 1965, trước nguy cơ bị phá sản hoàn toàn của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” đưa quân viễn chinh và quân đồng minh vào tham chiến trên chiến trường miền Nam, đồng thời sử dụng không quân và hải quân đánh phá ra miền Bắc. Bộ Tổng Tham mưu lúc này phải theo dõi, đánh giá đúng âm mưu và hành động của địch; bám sát thực tiễn chiến trường, giúp Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đề ra phương thức đấu tranh và giành thắng lợi ở miền Nam, đồng thời chỉ đạo đánh thắng chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ.
Thấy ít khả năng Mỹ dùng quân bộ tiến công ra miền Bắc, Bộ Tổng Tham mưu đã xây dựng, đề đạt kế hoạch và quyết định mở Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị; thực hiện được ý định kéo địch ra xa hậu phương, kéo địch vào chiến trường hiểm trở, hạn chế binh khí kỹ thuật hiện đại của chúng và thu hút, giam chân chủ lực địch. Đồng thời điều động, chỉ huy các lực lượng dự bị luân phiên vào tác chiến nhằm tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quân Mỹ và quân đội Sài Gòn; thu hút lực lượng Mỹ, làm giảm một phần đánh phá ở miền Nam; phá kế hoạch triển khai quân Mỹ xuống đồng bằng sông Cửu Long; tạo điều kiện cho quân và dân miền Nam đánh bại các cuộc phản công chiến lược của Mỹ.
Đối với miền Bắc, Bộ Tổng Tham mưu đã kịp thời đưa ra các nhận định chính xác về tính chất, mục đích, thủ đoạn tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân của Mỹ. Nghiên cứu giành và giữ quyền chủ động của ta cả ở trên không, trên biển. Từ đó, Bộ Tổng Tham mưu sớm nghiên cứu, đề xuất tổ chức xây dựng phát triển nhanh các binh chủng hiện đại; kịp thời đề ra phương châm, phương thức tác chiến thích hợp.

Phân khu ủy Phân khu 6 họp bàn kế hoạch Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968 tại căn cứ Sài Gòn - Gia Định. (ảnh: Tư liệu)
Trên chiến trường miền Nam, Bộ Tổng Tham mưu kịp thời cử những cán bộ dày dạn kinh nghiệm vào trực tiếp nghiên cứu tình hình, chỉ đạo, chỉ huy tác chiến. Đề ra 6 phương thức tác chiến, chỉ đạo các chiến trường thống nhất về đánh giá Mỹ, chỉ đạo đánh những trận phủ đầu giành thắng lợi với tinh thần “dám đánh, biết đánh và quyết thắng”. Quân và dân ta đã giữ vững thế chủ động tiến công, huy động sức mạnh tổng hợp đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967 và nhiều cuộc hành quân càn quét của đế quốc Mỹ và đồng minh. Bộ Tổng Tham mưu còn trực tiếp chuẩn bị kế hoạch cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 bảo đảm bí mật, bất ngờ, giành thắng lợi to lớn ở 4 thành phố, 37 thị xã, hơn 100 thị trấn miền Nam. Cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân năm 1968 đã đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang ngồi vào bàn đàm phán, chấm dứt chiến tranh phá hoại miền Bắc, đồng thời tạo bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Đối với chiến trường Lào, Bộ Tổng Tham mưu đã chỉ đạo, chỉ huy quân tình nguyện, các đoàn chuyên gia phối hợp và giúp Bạn giành và giữ quyền chủ động trên chiến trường, đánh bại các cuộc tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, phát triển thế làm chủ tiến công vào vùng sau lưng địch, củng cố và mở rộng vùng giải phóng của cách mạng Lào.
Về xây dựng lực lượng: Bộ Tổng Tham mưu đã tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang hai miền Nam - Bắc có bước phát triển nhảy vọt về số lượng và chất lượng. Ta đã có một quân đội mạnh ở miền Bắc với đủ các quân binh chủng hiện đại và tương đối hiện đại; lực lượng vũ trang mạnh ở miền Nam với đủ các thành phần ba thứ quân được tăng cường một số binh chủng. Trang bị cả hiện đại và thô sơ, cải tiến, sáng tạo trong sử dụng phù hợp với chiến trường nên đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của các thứ quân trong thế trận chiến tranh nhân dân ở cả hai miền Nam - Bắc.
Đánh thắng chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam và chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ ở miền Bắc
Sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, tăng cường quân đội Sài Gòn, đẩy mạnh chiến tranh ở miền Nam, đồng thời leo thang đánh phá miền Bắc và mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương.
Ở miền Bắc, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo các cơ quan, đơn vị giảm thành phần gián tiếp, tăng quân số trực tiếp chiến đấu, tổ chức tốt việc tuyển quân, kiện toàn đủ số quân và trang bị cho các sư đoàn bộ binh và binh chủng chủ lực cơ động. Tháng 2/1970, Quân ủy Trung ương xác định nhiệm vụ quan trọng của quân đội lúc này là xây dựng những binh đoàn chủ lực mạnh làm trụ cột cho chiến trường Đông Dương; xây dựng bộ đội chủ lực ở miền Nam đủ mạnh để có thể đánh những trận lớn; nâng cao sức mạnh chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng dự bị chiến lược trên miền Bắc. Theo đó, Bộ Tổng Tham mưu phối hợp với các Tổng cục tập trung củng cố, nâng cao sức mạnh chiến đấu và khả năng cơ động của sư đoàn bộ binh, các đơn vị binh chủng pháo binh, thiết giáp, đặc công, công binh, thông tin…; tăng cường lực lượng cho Đoàn 559, xây dựng đường ống dẫn xăng dầu vào chiến trường.
Trên chiến trường miền Nam, Bộ Tổng Tham mưu thực hiện tốt chức năng làm tham mưu với Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đánh giá đúng tình hình địch; xây dựng kế hoạch tác chiến, chuẩn bị chiến trường, tổ chức chỉ huy hiệp đồng và bảo đảm các mặt công tác; trực tiếp chỉ huy các chiến dịch lớn có ý nghĩa chiến lược như Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào; đánh bại cuộc hành quân “Toàn thắng 1/1971” của Mỹ và Quân đội Sài Gòn ở Đông Bắc Cam-pu-chia; Chiến dịch tiến công Trị - Thiên năm 1972, Chiến dịch Bắc Tây Nguyên...
Để bảo vệ miền Bắc, Bộ Tổng Tham mưu thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, dự báo sớm âm mưu, thủ đoạn của địch, chủ động chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Tháng 7/1972, Bộ Tổng Tham mưu chỉ thị cho Quân chủng Phòng không - Không quân chuẩn bị “Phương án đánh máy bay B.52”. tTháng 10/1972, Bộ Tổng Tham mưu triển khai xong lực lượng bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng. Nhờ có sự chuẩn bị chu đáo, tổ chức xây dựng lực lượng, thế trận phòng không nhân dân ba thứ quân, quân và dân miền Bắc đã đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược 12 ngày đêm (18 - 29/12/1972) của đế quốc Mỹ vào thủ đô Hà Nội và Hải Phòng.
Ở Lào và Cam-pu-chia, Bộ Tổng Tham mưu đã lập kế hoạch, tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy các lực lượng quân tình nguyện, chuyên gia quân sự phối hợp với bạn đập tan kế hoạch tiến công lấn chiếm các vùng giải phóng ở Lào; mở các chiến dịch tiến công và phòng ngự ở khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, chiến dịch phản công cao nguyên Bôlôven - Hạ Lào; xây dựng kế hoạch chống việc mở rộng tiến công sang Cam-pu-chia của quân Mỹ và Quân đội ngụy Sài Gòn.
Đồng thời, Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân phù hợp với từng địa bàn, gắn xây dựng lực lượng với bảo đảm hậu cần tại chỗ và chi viện của hậu phương. Những thắng lợi trên các chiến trường, đỉnh cao là chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 và cuộc Tổng tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam năm 1972, đã góp phần làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, buộc Mỹ ký Hiệp định Paris ngày 27/01/1973, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo thời cơ để quân và dân ta tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Xây dựng kế hoạch chiến lược, chỉ huy lực lượng vũ trang cùng toàn dân tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Mặc dù đã ký Hiệp định Paris, nhưng đế quốc Mỹ chưa từ bỏ âm mưu duy trì miền Nam trong quỹ đạo thực dân mới. Chúng không ngừng tăng cường viện trợ cho chính quyền Sài Gòn, chỉ huy Quân đội Sài Gòn thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ”, lấn chiếm vùng giải phóng của ta. Trước tình hình đó, tháng 5/1973, Bộ Tổng Tham mưu báo cáo Quân ủy Trung ương đề xuất một số nhiệm vụ trước mắt của lực lượng vũ trang: Đánh địch lấn chiếm, giữ vững và củng cố vùng giải phóng, bảo vệ hành lang vận chuyển chiến lược…
Sau Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (7/1973), Bộ Tổng Tham mưu được giao nhiệm vụ xây dựng kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975 - 1976. Rút kinh nghiệm các cuộc tiến công chiến lược năm 1968 và năm 1972, Bộ Tổng Tham mưu phối hợp với Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật chỉ đạo từ sớm việc chuẩn bị chiến trường, mở rộng và nâng cấp mạng đường chiến lược, chiến dịch, xây dựng đường ống xăng dầu, các căn cứ, tổ chức kho, trạm tại chỗ, nâng cấp hệ thống thông tin chỉ huy; chuẩn bị kế hoạch bảo vệ miền Bắc. Dự kiến quy mô sử dụng lực lượng trong bước phát triển cao nhất của chiến tranh, Bộ Tổng Tham mưu tập trung chỉ đạo kế hoạch động viên đưa tổng số quân lên 1,24 triệu người và thành lập thêm một số đơn vị mới, kiện toàn tổ chức và tăng cường trang bị kỹ thuật, khí tài cho các đơn vị chủ lực cơ động trên chiến trường.
Theo đó, Bộ Tổng Tham mưu chủ động thiết kế kế hoạch chiến lược, bảo đảm sát tình hình, chính xác, khoa học, bí mật, tạo lực, tạo thế trên toàn chiến trường Đông Dương. Trong chỉ đạo đánh bại các biện pháp tác chiến chiến lược của đối phương, Bộ Tổng Tham mưu đã quán triệt quan điểm bạo lực, tư tưởng chiến lược tiến công của chiến tranh cách mạng toàn dân, toàn diện và phương pháp đẩy lùi địch từng bước tiến lên đánh bại hoàn toàn địch với tinh thần sáng tạo, linh hoạt, kiên quyết.
Ngay sau khi Mỹ rút quân (29/3/1973), Bộ Tổng Tham mưu đã tích cực tạo lực, tạo thế chuẩn bị cho một cuộc quyết chiến chiến lược. Bộ Tổng Tham mưu phối hợp với Tổng cục Hậu cần sớm xây dựng kế hoạch vận chuyển cho chiến trường; hoàn chỉnh các mạng đường chiến dịch và chiến lược, phát triển đường ống dẫn dầu xuống phía Nam; chỉ đạo xây dựng cơ sở hậu cần tại chỗ dọc Đường 559 và trong các vùng giải phóng; hoàn thành kế hoạch tuyển quân; chỉ đạo đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang địa phương; tổ chức thành lập các quân đoàn chủ lực. Về tạo thế, từ năm 1974, tình hình diễn biến trên chiến trường ngày càng có lợi cho ta. Các cuộc hành quân lấn chiếm của địch đều bị đánh bại, nhiều đồn bốt nhỏ phải rút chạy. Tháng 7/1974, Bộ Tổng Tham mưu chủ trương mở các cuộc tiến công vào phòng tuyến vòng ngoài của địch suốt từ Trị Thiên đến Nam Bộ. Bị thua đau, địch không còn sức phản kích chiếm lại. Chiến thắng Phước Long (6/1/1975) thực sự là đòn trinh sát có ý nghĩa chiến lược, chứng tỏ sự suy sụp của chính quyền Sài Gòn, đồng thời cũng chứng tỏ Mỹ không có khả năng trở lại can thiệp Việt Nam bằng quân sự.
Nhận định, đánh giá đúng tình hình, Bộ Tổng Tham mưu đã tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng điều chỉnh lại quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam và trực tiếp chỉ đạo thực hiện thế trận “căng địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt”, đó là mưu kế chiến lược đánh địch bằng các binh đoàn chủ lực trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao. Bộ Tổng Tham mưu đã chọn Tây Nguyên làm hướng chủ yếu, lấy Buôn Ma Thuột làm điểm quyết chiến hiểm yếu. Trong chiến dịch này ta đã tận dụng các yếu tố địa lý và hạ tầng giao thông để tạo lập thế trận, nghi binh, chia cắt lượng địch. Sự hỗn loạn và và sụp đổ của lực lượng địch sau đòn điểm huyệt Tây Nguyên thể hiện vai trò, sự mưu lược của Bộ Tổng Tham mưu trong việc nắm thời cơ, tham mưu chiến lược và chỉ đạo, điều hành chiến tranh để làm suy yếu địch, từ đó làm thay đổi cơ bản so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch trên toàn miền Nam. Sau chiến thắng Tây Nguyên, Bộ Tổng Tham mưu tiếp tục chỉ đạo, chỉ huy mở chiến dịch Trị Thiên - Huế và chiến dịch Đà Nẵng, giải phóng Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng. Trên đà thắng lợi, Bộ Tổng Tham mưu đã tận dụng thời cơ, kịp thời tham mưu đề xuất chuyển từ tiến công chiến lược sang tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975, rồi quyết định giải phóng trước mùa mưa năm 1975, kết hợp chặt chẽ với các chiến dịch tổng hợp ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt, đã chớp thời cơ, chỉ đạo tiến hành tiến công giải phóng Trường Sa giành thắng lợi trọn vẹn.

Xe tăng quân Giải phóng băng qua cánh cổng sắt, đánh chiếm Phủ Tổng thống ngụy Sài Gòn, trưa 30/4/1975. (ảnh: Tư liệu)
Những tham mưu, đề xuất chiến lược đó, thể hiện sự kiên định mục tiêu cuối cùng, sự tính toán chính xác, năng lực thiết kế các kế hoạch, tổ chức thực hiện các giải pháp, trình độ lãnh đạo, tổ chức chỉ huy của cơ quan tham mưu chiến lược, với tinh thần “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” của Tổng hành dinh cùng với ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do” của toàn quân, toàn dân, đã tạo nên sức mạnh tổng hợp giành toàn thắng, kết thúc chiến tranh.
Những chiến công nổi bật của Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là sự hội tụ công lao, đóng góp to lớn của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, của toàn bộ cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Bộ Tổng Tham mưu, trong đó có đóng góp to lớn, nổi bật của nhiều đồng chí lãnh đạo Bộ Tổng Tham mưu, như các đồng chí Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái, Văn Tiến Dũng...
Trải qua 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta đã thực hiện đúng tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Bộ Tổng Tham mưu đã không ngừng trưởng thành về tham mưu chiến lược với Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đề ra những quyết sách đúng đắn, đồng thời chỉ đạo, chỉ huy lực lượng vũ trang, nòng cốt là QĐND lần lượt đánh bại từng chiến lược của đế quốc Mỹ, góp phần xuất sắc vào thắng lợi chung của dân tộc; xứng đáng là cơ quan tham mưu chiến lược về quân sự, quốc phòng của cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ một cơ quan tham mưu chiến lược của lục quân trong kháng chiến chống Pháp, Bộ Tổng Tham mưu đã trở thành cơ quan tham mưu chiến lược của một quân đội có đầy đủ các quân, binh chủng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là cơ sở để Bộ Tổng Tham mưu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN sau khi đất nước thống nhất.